Địa chỉ thuê vps giá rẻsửa macbook tại hà nộiUy Tín chuyên nghiệp

23:02 ICT Thứ ba, 19/06/2018

Danh mục chính

global counter

  • Đang truy cập: 0
  • Hôm nay: 1305
  • Tháng hiện tại: 38181
  • Tổng lượt truy cập: 5954525

In ra
Lưu bài viết này
Share this on FaceBook

BÁO CÁO CÔNG TÁC TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG XÃ, THỊ TRẤN

Đăng lúc: Thứ năm - 21/03/2013 08:38
Trực Ninh, một huyện thuần nông, kinh tế còn nhiều khó khăn; diện tích tự nhiên 143,5 km2 gồm 21 xã, thị trấn; dân số toàn huyện gần 20 vạn người, 112,965 người trong độ tuổi lao động. Hệ thống, mạng lưới giáo dục gồm 28 trường Mầm non, 28 trường Tiểu học, 26 trường THCS, 21 trung tâm học tập cộng đồng, 2 trung tâm giáo dục thường xuyên, 5 trường trung học phổ thông và 1 trường trung cấp kỹ thuật công nghiệp của tỉnh.

            Trong những năm qua, quán triệt và triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XVIII, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Trực Ninh lần thứ XXIII, triển khai thực hiện Chương trình hành động đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập khu vực và quốc tế, ngành Giáo dục - Đào tạo huyện Trực Ninh đã cố gắng nỗ lực phấn đấu, đạt được những kết quả quan trọng, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện.

 

              Quy mô, mạng lưới trường lớp ổn định; công tác đổi mới giáo dục được thực hiện từng bước vững chắc, các cuộc vận động và các phong trào thi đua ngày càng đi vào chiều sâu; chất lượng giáo dục toàn diện được nâng cao; cơ sở vật chất các nhà trường đáp ứng tốt hơn yêu cầu dạy và học; chương trình kiên cố hóa trường lớp học được các cấp đặc biệt quan tâm chỉ đạo, ưu tiên bố trí nguồn vốn, lồng ghép với việc thực hiện Đề án của Ban chấp hành Đảng bộ huyện về “Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, tập trung các nguồn lực xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia”, lồng ghép với chương trình xây dựng nông thôn mới.

 

            Thực hiện Quyết định số 09/2008/QĐ-BGDĐT ngày 24/3/2008 của Bộ Giáo dục - Đào tạo về Quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng tại xã, thị trấn; Hướng dẫn số 1852/SGDĐT - GDCN&GDTX ngày 31/12/2008 của Sở Giáo dục - Đào tạo Nam Định về thực hiện Quyết định 09/2008/QĐ-BGDĐT ngày 24/3/2008 của Bộ Giáo dục - Đào tạo về Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm học tập cộng đồng tại xã, thị trấn; Công văn số 412/SGDĐT - GDCN&TX ngày 21/4/2009 về việc chỉ đạo kiện toàn tổ chức và đẩy mạnh hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng, sau hơn 4 năm thực hiện, Phòng Giáo dục - Đào tạo huyện Trực Ninh trân trọng báo cáo kết quả về công tác tổ chức, hoạt động của các Trung tâm học tập cộng đồng như sau:

 

      I. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN

 

1.          Đặc điểm tình hình

 

        1.1. Thuận lợi

 

         - Huyện ủy, UBND huyện, Sở Giáo dục - Đào tạo luôn quan tâm, chăm lo xây dựng, phát triển các trung tâm học tập cộng đồng; sự quan tâm, tạo điều kiện của Đảng ủy, UBND các xã, thị trấn; sự phối kết hợp giữa các ban ngành, đoàn, thể, các trung tâm giáo dục thường xuyên, trường trung cấp kỹ thuật công nghiệp Nam Định, Hội Khuyến học trong việc xây dựng “xã hội học tập”.

 

           - Việc thành lập trung tâm học tập cộng đồng huyện Trực Ninh theo Quyết định số 09/2008/QĐ - BGDĐT ngày 24/3/2008 của Bộ Giáo dục - Đào tạo về Quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng tại xã, thị trấn là sự tiếp nối hoạt động theo Quyết định số 2753/2003/QĐ - UB ngày 29/10/2003 của UBND tỉnh Nam Định về việc ban hành Quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của Trung tâm học tập cộng đồng tại xã, thị trấn phù hợp với quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục của huyện, đáp ứng nhu cầu học tập của cộng đồng. Đến nay 21/21 trung tâm học tập cộng đồng có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng.

 

           - 100% các đồng chí Giám đốc, Phó giám đốc các trung tâm học tập cộng đồng đã được hỗ trợ kinh phí hàng tháng theo Quyết định số 1644/QĐ - UBND ngày 13/8/2010 của UBND tỉnh Nam Định.

 

          1.2. Khó khăn

              

                 - Một số trung tâm học tập cộng đồng chưa đảm bảo về cơ sở vật chất, thiết bị cần thiết phục vụ hoạt động của trung tâm.

           

              - Đội ngũ giáo viên làm việc tại trung tâm học tập cộng đồng theo Thông tư 40/2010/TT-BGDĐT ngày 31/12/2010 về việc sửa đổi một số điều của quy chế hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng ban hành theo Quyết định số 09/2008/QĐ-BGDĐT chưa được thực hiện (việc bố trí giáo viên trường tiểu học hoặc trung học cơ sở làm việc tại trung tâm học tập cộng đồng, sau khi có ý kiến của UBND xã và được sự đồng ý của UBND huyện).

 

                - Hội đồng nhân dân, UBND tỉnh chưa thực hiện việc hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước, hỗ trợ kinh phí hoạt động thường xuyên và phụ cấp kiêm nhiệm đối với cán bộ tham gia vào công tác quản lý trung tâm học tập cộng đồng.

 

          2. Kết quả đạt được

 

           2.1. Về đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên trung tâm học tập cộng đồng

 

            - Tổng số cán bộ quản lý các trung tâm học tập cộng đồng: 63 người.

 

           - Giám đốc trung tâm học tập cộng đồng 100% là các đồng chí lãnh đạo Đảng ủy, hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân xã, thị trấn (Chủ tịch 4, Bí thư 1, Phó bí thư 1, Phó Chủ tịch 15).

 

- Căn cứ nhu cầu học tập tại địa phương, 21 trung tâm học tập cộng đồng đã thành lập 84 tiểu ban gồm 217 cộng tác viên, 2 Trung tâm giáo dục thường xuyên là 8 cộng tác viên, trường Trung cấp Nghề kỹ thuật công nghiệp Nam Định là 12 cộng tác viên.

 

2.2. Về cơ sở vật chất

 

- Số lượng trung tâm học tập cộng đồng xã, thị trấn: 21/21, tỉ lệ 100%.

 

          - Trung tâm học tập cộng đồng hoạt động có trụ sở riêng: 21/21, tỉ lệ 100%.

 

- Trung tâm học tập cộng đồng có tủ sách kết hợp với bưu điện văn hóa xã, thị trấn: 21/21, tỉ lệ 100%.

 

- Trung tâm học tập cộng đồng có thiết bị riêng 10/21, tỉ lệ 47,6%.

 

          2.3. Về quy mô phát triển lớp học

                     2.3.1. Công tác xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ, củng cố chất lượng phổ cập.

                        -  Trong 4 năm toàn huyện huy động được 583 học viên.

 

                     + Số học viên được công nhận xóa mù chữ và tiếp tục sau khi biết chữ 51. Năm  học 2008-2009 số học viên được công nhận là 23 học viên, năm học 2009-2010 là 18 học viên, năm học 2010-2011, 2011-2012 là 10 học viên.

 

                    +  Tốt nghiệp bổ túc trung học cơ sở đạt 161 học viên. Năm học 2008-2009 số học viên được công nhận tốt nghiệp 47 học viên, năm học 2009-2010 là 40 học viên, năm học 2010-2011 là 38 học viên, năm học 2011-2012 là 36 học viên.

 

                  - Công tác phổ cập giáo dục tiểu học và phổ cập giáo dục trung học được duy trì vững chắc.

 

                   2.3.2. Công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức nhằm mở rộng hiểu biết, nâng cao nhận thức và cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân trong cộng đồng

 

                  a) Chương trình giáo dục pháp luật 15.528 lượt người tham gia.

 

                  Các trung tâm học tập cộng đồng đã triển khai, phổ biến  những nội dung về Hiến pháp, pháp luật của nhà nước để hướng dẫn cho các đối tượng trong cộng đồng như Luật đất đai, luật an toàn giao thông, luật Bình đẳng giới, luật nghĩa vụ quân sự, luật hôn nhân và gia đình… Sau khi được nghiên cứu và thảo luận và học tập những nội dung trên, học viên đã có những hiểu biết và những nhận thức sâu sắc hơn về đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật của nhà nước, từ đó tự giác chấp hành, góp phần làm giảm đáng kể những vụ tranh chấp, khiếu kiện ở địa phương, giảm tai nạn giao thông, tỷ lệ tăng dân số, thực hiện tốt những nguyên tắc Bình đẳng giới trong các lĩnh vực đời sống xã hội và gia đình, những biện pháp bảo đảm Bình đẳng giới, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện Bình đẳng giới… Tiêu biểu là các trung tâm học tập cộng đồng xã Phương Định, xã Trực Nội, Trực Hưng, Trực Khang, Trực Đại, thị trấn Cát Thành, thị trấn Cổ Lễ

 

                       b) Chương trình giáo dục văn hóa xã hội 6.289 lượt người tham gia.

                      Các chuyên đề về giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống được phổ biến sâu rộng trong các trung tâm. Phong trào văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, đọc sách báo, phát triển mạnh mẽ, giúp người lao động đặc biệt là thanh niên nông thôn mở rộng tầm hiểu biết, tránh xa các tệ nạn, biết giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, nâng cao đời sống tinh thần, sống hoà hợp, thân ái, văn minh.

 

                      c) Chương trình giáo dục bảo vệ sức khỏe 5.637 lượt người tham gia.

 

                    Các hoạt động của người cao tuổi, câu lạc bộ dưỡng sinh đã có tác dụng tốt trong việc nâng cao sức khoẻ, tuổi thọ, giúp người cao tuổi sống vui, sống khoẻ, sống có ích.

 

                     Hội phụ nữ các trung tâm đã tổ chức các câu lạc bộ “gia đình hạnh phúc”, câu lạc bộ “phòng chống suy dinh dưỡng, chăm sóc bảo vệ sức khoẻ cho bà mẹ và trẻ em”... Nhờ các lớp học và các hình thức học tập phong phú được tổ chức đều đặn nên chị em có thêm kiến thức về vai trò người mẹ, người vợ, biết cách nuôi con khoẻ, dạy con ngoan. Chị em sinh hoạt trong câu lạc bộ đều ký cam kết với Hội Phụ nữ không sinh con thứ ba. Tiêu biểu là trung tâm học tập cộng đồng xã  Phương Định, Trực Thanh, Trực Hùng, Trực Thái, Trực Phú, Trực Mỹ, thị trấn Cát Thành, thị trấn Cổ Lễ.

 

                      d) Chương trình giáo dục phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ 29.581 lượt người tham gia

 

                     - Trung tâm học tập cộng đồng xã Trực Đại đã triển khai dự án đến bà con nông dân. Dự án tiếp nhận kỹ thuật đầu tư con giống (cá rô phi đơn tính), máy chế biến thức ăn trị giá 5 triệu đồng/hộ (Đầu tư điểm 5 hộ) của công ty VACVINA -  Bộ Thuỷ sản; dự án Xây dựng làng xã vệ sinh môi trường xanh, sạch, đẹp do Trung tâm nước sinh hoạt vệ sinh môi trường Nam Định hỗ trợ với kinh phí là 70 triệu đồng 28 công trình (24 công trình chuồng trại gắn với bể Bioga, 04 công trình chuồng trại riêng biệt); dự án chuyển giao kỹ thuật móc mới sợi PP.

 

                         - Một số trung tâm học tập cộng đồng đã thực hiện hiệu quả Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn đến năm 2020. Không chỉ phát triển nghề truyền thống như ươm tơ, dệt lụa, dệt khăn còn mở các ngành nghề mới như máy may công nghiệp, dệt màn tuyn nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, từng bước đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu. Việc phát triển bền vững một số ngành nghề tại cộng đồng đã thu hút nhiều lao động tham gia, thu nhập tương đối ổn định. Tiêu biểu là trung tâm học tập cộng đồng xã Phương Định, xã Trực Nội, xã Trực Phú, xã Trực Chính, xã Trực Chính.

 

                          - Việc chuyển giao khoa học kỹ thuật, đưa giống mới có năng suất, hiệu quả kinh tế cao, kỹ thuật thâm canh, phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng, vật nuôi... đã giúp người lao động thay đổi cách nghĩ, cách làm để nâng cao thu nhập. Tiêu biểu là trung tâm học tập cộng đồng xã Trực Hùng, xã Trung Đông.

 

                        2.4. Về kinh phí

                    - Năm 2008, mỗi trung tâm học tập cộng đồng xã, thị trấn được hỗ trợ kinh phí ban đầu là 10.000.000 đồng (Công văn số 624/SGD&ĐT-KHTC ngày 03 tháng 7 năm 2008 của Sở Giáo dục - Đào tạo về việc hỗ trợ kinh phí mua sắm trang thiết bị cho các trung tâm học tập cộng đồng).

 

                            - Ngày 20 tháng 10 năm 2010, cán bộ quản lý trung tâm học tập cộng đồng được hưởng phụ cấp kiêm nhiệm theo đúng Quyết định số 1644/QĐ-UBND ngày 13/8/2010 của UBND tỉnh Nam Định về việc quy định mức hỗ trợ kinh phí hàng tháng cho cán bộ quản lý các trung tâm học tập cộng đồng xã, thị trấn.

 

                               - Một số địa phương đã trích kinh phí từ ngân sách chi thường xuyên phục vụ cho hoạt động của trung tâm. 100% các xã được hỗ trợ kinh phí hoạt động. Tổng số tiền hỗ trợ là 168.000.000đ.

 

                             - Hàng năm Phòng Giáo - Đào tạo hỗ trợ kinh phí về hồ sơ sổ sách và một số tài liệu khác cho trung tâm số tiền là 105.000.000đ.

                        4. Đánh giá chung

 

                       4.1. Ưu điểm

 

                      Qua 4 năm tổ chức thực hiện, được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, sự ủng hộ, tham gia tích cực của các ban, ngành, đoàn thể, trung tâm học tập cộng đồng huyện Trực Ninh đã xây dựng được phong trào cả huyện trở thành một xã hội học tập; giúp người dân hiểu biết về chính sách, pháp luật của Đảng, nhà nước; áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, cây trồng, tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống; thực hiện nếp sống văn hóa ở cộng đồng dân cư, tình hình an ninh, chính trị đảm bảo.

 

                 Đội ngũ cán bộ quản lý tại các trung tâm học tập cộng đồng ổn định nên công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ đã và đang hoạt động có chiều sâu và mang lại những hiệu quả thiết thực.

 

                4.2. Hạn chế

 

                     - Có những nội dung chương trình học tập chưa thực sự xuất phát từ nhu cầu người học, chưa đảm bảo tính bền vững trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống.

 

                      - Việc phối kết hợp với các ban, ngành, đoàn thể ở một số trung tâm chưa thống nhất, chưa đồng bộ, chưa thường xuyên.

                     II. PHƯƠNG HƯỚNG THỰC HIỆN

 1. Tiếp tục đổi mới quản lý trong việc thực hiện Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm học tập cộng đồng tại xã, thị trấn theo Quyết định số 09/2008/QĐ - BGDĐT ngày 24/3/2008 của Bộ Giáo dục - Đào tạo về Quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng tại xã, thị trấn; Thông tư số 40/2010/TT - BGDĐT ngày 30/12/2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo về việc sửa đổi một số điều của quy chế hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng .

 

2. Đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục trong việc huy động các nguồn lực mua sắm trang thiết bị; chỉ đạo thực hiện xây dựng 02 trung tâm học tập cộng đồng điểm, kết với Nhà văn hoá, bưu điện xã để phổ biến kiến thức theo Chương trình giáo dục thường xuyên đáp ứng yêu cầu người học (Phương Định, Trực Hùng).

 

3. Phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, cộng tác viên về mục tiêu, mức độ cần đạt, phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá đối với các chương trình học tập của trung tâm học tập cộng đồng, biên soạn tài liệu đáp ứng nhu cầu người học phù hợp với thực tế của địa phương.

 

4. Đa dạng hóa nội dung, chương trình và hình thức học tập, tiếp tục mở rộng nội dung các nhóm chuyên đề: Khoa học kỹ thuật nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; tập trung vào lĩnh vực khoa học công nghệ phục vụ cho công nghiệp, chế biến sản phẩm nông nghiệp, mở rộng và nâng cao chất lượng ở các làng nghề, chú trọng các nghề truyền thống, đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực tại chỗ của địa phương nhằm đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên, học tập suốt đời của mọi người.

 

5. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chương trình giáo dục; quy chế chuyên môn về kiểm tra đánh giá xếp loại học viên; công nhận học viên hoàn thành chương trình xoá mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ; xét công nhận tốt nghiệp bổ túc Trung học cơ sở; thực hiện Công văn số 913/BGDĐT - GDTX ngày 25/02/2011 của Bộ Giáo dục - Đào tạo về việc nâng cao hiệu quả hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng.

Số lần xem: 17240

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 19 trong 5 đánh giá
Click để đánh giá bài viết